Shop chuyên bán Cà vạt, nơ chất lượng và uy tín. Giảm giá tới 30% các sản phẩm cao cấp
Thẻ Bài viết gắn với thẻ "Apple"

Apple

0

Jason Fried, đồng sáng lập và CEO của công cụ quản lý dự án Basecamp, không muốn phát triển thành một công ty lớn mạnh trăm triệu đô la. Fried muốn giữ Basecamp là một công ty nhỏ và thành công trong thời gian dài.

“Bạn không cần phải là Apple, hay Amazone, bạn không cần phải là một doanh nghiệp phát triển nhanh chóng mặt” Fried chia sẻ trong sự kiện hàng năm GrowCo lần thứ 17 tại Nashville, Tennessee, “Bạn có thể trở thành một công ty tuyệt vời, tạo ra những sản phẩm hữu ích cho khách hàng, phục vụ họ thật tốt và đối xử với nhân viên thật tốt. Bạn không cần phải lúc nào cũng nghĩ đến việc hái sao trên trời.”

jason-fried-james-ledbetter-growco-2014_36959

Fried nhận thấy có rất nhiều startup thành công, những startup thu được hơn 8 triệu đô la lợi nhuận, nhưng sau đó, đã tự giết chết chính mình bằng việc cố gắng phát triển thật nhanh và mong trở thành những công ty 100 triệu đô la. Nhà sáng lập người Chicago này tin rằng, tốt hơn hết là hãy giữ sự cân bằng, phát triển từ từ, tạo ra những sản phẩm tốt nhất để phục vụ khách hàng và xây dựng một nhóm làm việc vui vẻ, được trả thưởng xứng đáng.

“Tôi không muốn theo đuổi tiền bạc và lợi nhuận, văn hóa là điều quan trọng đối với chúng tôi” Fried nói về việc thực hiện kì nghỉ mát mỗi năm cho 42 nhân viên, “chúng tôi không có khả năng để làm việc này với 200 nhân viên.”

Khi Fried và người đồng sự của mình thành lập 37 Signals vào 15 năm trước, họ có rất nhiều sản phẩm và dịch vụ khác nhau, bao gồm cả Basecamp. Nhưng rồi, họ nhận ra mình không thể làm tốt tất cả mọi thử cùng một lúc, vì vậy, họ quyết định đổi tên công ty thành Basecamp và chỉ tập trung vào một sản phẩm.

“Công ty nhỏ có thể làm những thứ mà công ty lớn không thể làm được. Ai cũng muốn trở nên lớn mạnh, nhưng những ông lớn ước là họ có thể nhỏ lại một chút. Tôi muốn mình vẫn ở quy mô nhỏ.”

Đây là những lời khuyên của Fried về việc điều hành một công ty nhỏ (và thành công):

Tập trung vào một sản phẩm

“Bạn không thể chỉ đưa sản phẩm ra thị trường. Bạn phải duy trì chất lượng và sản phẩm”. Ví dụ, bạn hãy chắn rằng server chạy ổn định. Bạn phải luôn nhận phản hồi khách hàng và đưa ra những bản cập nhật sớm nhất.

“Bạn không thể chỉ đưa sản phẩm ra thị trường và để đó tự chạy. Như vậy là thật không công bằng với khách hàng.”

Tránh các nhà đầu tư, nếu có thể

“Tôi không thích các nhà đầu tư” Fried cũng đã lưu ý thêm rằng, công ty anh ấy chỉ có một nhà đầu tư, và đó là Jeff Bezos,“Tất cả doanh thu của Basecamp là do nỗ lực của chính chúng tôi.”

Lí do của anh ấy là gì? Khi bạn lấy tiền đầu tư từ bên ngoài, bạn đang nằm trong bảng kế hoạch của người khác. Bạn cần phải bán, bạn cần phải lên sàn IPO theo kế hoạch. Và một khi bạn đã bắt đầu nhận vốn đầu tư, bạn sẽ lạm dụng và nó sẽ trở nên nghiện. Mọi người ít khi chỉ nhận một vòng vốn đầu tư… Nó sẽ trở thành một nứt vỡ từ bên trong.

Fried không muốn nhận đầu tư và rồi thóai vốn, anh ấy muốn ở lại cuộc chơi và điều hành công ty theo cách của mình. Nhưng quan trọng nhất, anh ấy muốn tập trung vào khách hàng “Tôi không xây dựng một thứ để bán. Tôi xây dựng thứ để duy trì nó và hoàn thiện nó tốt hơn.”

Giữ mọi thứ đơn giản

“Tại Basecamp, chúng tôi coi trọng nền tảng. Tôi muốn tập trung vào nền tảng khi mà mọi người chỉ tập trung vào những thứ bề mặt.”

Bạn cần làm những thứ mà mọi người thật sự muốn sử dụng. Mọi người mua thứ gì đó bởi vì họ đang có một vấn đề cần giải quyết và cần sự giúp đỡ. Bạn có thể giải quyết vấn đề đó không?

Kết

Chiến lược phát triển của Fried là duy trì mức nhỏ, phát triển từ từ và làm một thứ thật tốt.

“Bạn cần tạo một nền tảng đúng đắn. Sản phẩm vui nhộn sẽ hết thời, sản phẩm hấp dẫn cũng sẽ hết thời, nhưng sản phẩm hữu ích không bao giờ hết thời.”

Minh Minh/Inc

0

Quy mô thị trường khác biệt, quan điểm khác biệt về cạnh tranh và các thước đo số liệu, khởi nghiệp ngay sau khi tốt nghiệp và nhận thức về kinh doanh.

Cubie-300x300Đó là những chia sẻ của Jacky Yap, Biên tập viên cao cấp của e27, một người đã có thời gian làm việc trong cộng đồng công nghệ tại Singapore và chuyến đi đến Thung lũng Silicon (*) đã cung cấp cho anh một cái nhìn sâu rộng về những điểm khác biệt giữa hai hệ sinh thái startup.

Quy mô thị trường

Một trong những điều mà các startups các nước châu Á hay than phiền nhất là quy mô thị trường trong nước khá nhỏ. Nhưng một nhà sáng lập tại Thung lũng Silicon đã mang đến một quan điểm rất thú vị về quy mô thị trường: “Hãy nhìn vào Facebook, khi mới bắt đầu, họ chỉ lấy Harvard làm mục tiêu và dần dần đã thống trị toàn bộ mạng xã hội trong trường. Sau đó, họ dần dần mở rộng đến các trường khác và xây dựng thành công những cộng đồng tuy nhỏ nhưng rất vững mạnh. Sau đó, câu chuyện về sự phát triển của Facebook đã đi vào lịch sử đáng nhớ của ngành công nghệ.” 

Câu chuyện về sự ra đời của Facebook đã vô hiệu hóa những lời than phiền về quy mô thị trường. Nếu bạn không thể giành được thị phần ngay tại quốc gia mình thì làm sao bạn có thể cạnh tranh với những startup và doanh nghiệp đến từ những quốc gia trong vùng hay từ thương trường quốc tế?

Cạnh tranh và các thước đo sự phát triển

Khi đến thăm hai nhà đồng sáng lập Tempo và Cjin của startup Cubie Messenger, một trong những startup thuộc danh sách 500Startups, Tempo đã chia sẻ một điều rất ấn tượng. Khi được hỏi liệu Cubie có lo lắng về cạnh tranh hay không thì CEO Tempo đã trả lời rằng: “Một trong những thứ mà chúng tôi học được từ 500Startups và Thung lũng Silicon là sự khác biệt giữa câu hỏi được đề ra và trọng điểm. Tại Thung lũng Silicon, mọi người tập trung vào các thước đo sự phát triển và rất ít khi đề cập đến chuyện cạnh tranh. Tuy nhiên, tại Châu Á, mọi người cứ hỏi chúng tôi về những đối thủ cạnh tranh. Thung lũng Silicon đã cho chúng tôi biết mình nên tập trung vào các số liệu phát triển và sản phẩm của mình.” Hầu hết mọi người đều nghĩ rằng quy mô thị trường là một hằng số nhưng lại quên rằng thị trường cũng có thể không ngừng phát triển.

Các startup châu Á thường không cởi mở trong việc thảo luận về những số liệu phát triển của mình, chính điều này cũng gây ra nhiều khó khăn trong việc đánh giá thị trường.

Làm việc cho các startup hay khởi nghiệp ngay sau khi tốt nghiệp đại học

Một trong những chủ đề được bàn luận nhiều nhất ở Thung lũng Silicon là liệu một sinh viên nên tự khởi nghiệp ngay sau khi tốt nghiệp trước hay làm việc cho một startup. Ngạc nhiên thay là hầu hết các nhà sáng lập và doanh nhân ở đây đều chia sẻ rằng sinh viên nên làm việc cho một startup trước. Làm việc cho một startup sẽ đặt họ dưới một sức ép rất cao nhưng đó cũng là một vị trí tốt để người sinh viên đó học hỏi và phát triển bản thân cùng công ty. Đồng thời giúp họ xây dựng thương hiệu, mạng lưới quan hệ và uy tín cá nhân.

Ngoài ra, rất nhiều nhà sáng lập và doanh nhân cũng đồng ý rằng trường đại học mang đến cho một sinh viên cơ hội tốt nhất để startup và làm việc với những con người tuyệt vời trong những dự án nhỏ.

Tinh thần doanh nhân

Trong những năm qua, chất lượng của các startup đã tăng cao bởi mọi người đều đang trở nên tài giỏi hơn. Khi đang khởi nghiệp, bạn nên tự xây dựng mọi thứ cho mình. Khi tạo ra những thứ mình đam mê, bạn sẽ có nhiều cơ hội thành công hơn. Một điều quan trọng khác nữa là bạn cũng cần phải rất kỷ luật, cam kết và luôn luôn sẵn sàng. Một trong những bài viết của Joel Runyon đã tóm tắt rất thành công sự khác biệt giữa kỷ luật và động lực: Động lực chỉ là thoáng qua, nhất thời và ở khắp mọi nơi nhưng kỷ luật rất nhất quán, thường xuyên và hiếm thấy.

Để trở thành một nhà lãnh đạo tuyệt vời của một startup công nghệ, bạn cần phải có khả năng, uy tín và tạo được ảnh hưởng, nó đòi hỏi sự kiên trì, cố gắng không ngừng và nghiêm khắc hơn với bản thân.

Thủy Bình/e27

 (*) Thung lũng Silicon là trung khu công nghệ cao nằm ở phía Nam vịnh San Francisco, thuộc phía bắc bang California Mỹ. Vùng thung lũng này hiện nay có khoảng 2 triệu người sinh sống và có khoảng 6.000 doanh nghiệp về công nghệ cao đang hoạt động. Trong đó, nổi bật nhất là những ông lớn trong giới công nghệ như Google, Facebook, Linked In, Apple, Intel…

Khi số lượng người dùng smartphone bắt đầu bùng nổ và các dịch vụ web trở nên phổ biến ở châu Á, nhiều quỹ đầu tư doanh nghiệp tư nhân (Private Equity Fund) và quỹ đầu tư mạo hiểm (Venture Capital) bắt đầu khám phá thị trường đầy tiềm năng này. Có một số quỹ đầu tư mạo hiểm toàn cầu, đặc biệt là ở Silicon Valley đang để mắt đến các công ty khởi nghiệp đang tăng tốc tại vùng đất mới. Dưới đây là môjt số quỹ đầu tư maọ hiểm quốc tế đã đầu tư vào startup Đông Nam Á.

1. Morgenthaler Ventures
Morgenthaler Ventures đã đầu tư vào hơn 300 công ty trên khắp thế giới, bao gồm cả Apple. Kể từ năm 2008, công ty này đã tập trung nhiều hơn vào các khoản đầu tư vốn mạo hiểm và đã rót hơn 400 triệu đô-la vào các dự án kinh doanh khác nhau liên quan đến công nghệ thông tin và khoa học đời sống.
Công ty này đã cho thấy sự tự tin của mình khi đầu tư vào một công ty khởi nghiệp Paskitan với số tiền 5 triệu đô-la: Convo , một sản phẩm giao tiếp nội bộ dành cho doanh nghiệp.

2. Sequoia Capital
Sequoia Capital là một trong những quỹ đầu tư mạo hiểm hàng đầu thế giới, thành lập tại California vào năm 1972 bởi Don Valentine, và hiện đang đầu tư cho các công ty ở giai đoạn tăng trưởng trên toàn thế giới.

Quỹ đầu tư này cũng được biết đến vì đã đầu tư vào một số gã khổng lồ công nghệ thong tin toàn cầu ở thời điểm hiện tại bao gồm cả Google, Apple, Yahoo, và Amazon. Thương vụ đầu tiên của Sequoia là tại Ấn Độ vào năm 2006, Sequoia đã đầu tư 20 triệu đô-la vào Café Coffee Day trong vòng hơn hai năm. Hiện nay, Sequoia Capital Ấn Độ có số tiền khoảng 1,4 tỷ đô-la đầu tư vào một số công ty trong nước.

Sequoia có một sự quan tâm đặc biệt dành cho các công ty công nghệ có kết nối giữa Ấn Độ và Mỹ. Quỹ đầu tư này quan tâm đến các dịch vụ tiêu dùng, y tế, năng lượng, dịch vụ tài chính, và một loạt các lĩnh vực khác. Gần đây, Sequoia thông báo rằng nó đã huy động thêm 530 triệu đô-la vào vòng gọi vốn thứ 4 tại Ấn Độ, nâng con số tổng đầu tư tại đất nước này lên đến 2 tỷ đô-la.

3. ePlanet Capital
ePlanet Capital là một quỹ đầu tư mạo hiểm toàn có trụ sở chính tại Silicon Valley và các văn phòng trên toàn thế giới. Quỹ này đã có hơn 100 thương vụ đầu tư trong vòng 14 năm và tập trung vào các lĩnh vực dịch vụ internet và các ứng dụng, giải trí, khoa học đời sống.

Quỹ này đã đầu tư Pakistan’s Naseeb Networks, cha đẻ của mạng xã hội Naseeb, và Rozee.pk, một trang web tuyển dụng trực tuyến. Thương vụ đầu tư vào Rozee được cho là thương vụ đầu tư đầu tiên của nước ngoài vào startup Pakistan.

4. Global Founders Capital
Những nhà sáng lập của Rocket Internet đã hợp tác để khởi động Global Founders Capital, nhằm mục đích đầu tư từ giai đoạn khởi tạo ươm mầm đến cả những vòng gọi vốn về sau của các công ty khởi nghiệp.

Quỹ đầu tư mạo hiểm này bắt đầu với gần 180 triệu đô-la và đã đầu tư vào một vài doanh nghiệp internet. Rocket Internet đã tập trung đầu tư vào các doanh nghiệp internet béo bở ở Nam Á, Trung Đông, Nam Mỹ, và Châu Phi. Danh mục đầu tư của nó kéo dài hơn 50 công ty trong gần 40 thị trường.

Tại Pakistan, Rocket Internet vận hành các sản phẩm có tốc độ phát triển nhanh như Kaymu và Daraz.
Global-Founders-Capital
5. Fenox Venture Capital
Fenox Venture Capital là một quỹ đầu tư có trụ sở tại Silicon Valley và đã lan toả sức ảnh hưởng của nó trên toàn cầu thông qua các thương vụ đầu tư. Quỹ đầu tư này thường tập trung làm việc với các công ty khởi nghiệp mới nổi, ở châu Á, châu Âu, Bắc Mỹ và Trung Đông.

Fenox gần đây đã ra mắt khoản đầu tư 200 triệu đô-la cho quỹ lĩnh vực truyền thông và CNTT ở Bangladesh. Khoản đầu tư này không chỉ hướng đến cung cấp vốn cho giai đoạn ban đầu của các công ty khởi nghiệp Bangladesh mà còn hứa hẹn những vòng đầu tư khác về sau cùng sự hợp tác với những nhà đầu tư cá nhân khác.

6. Nexus Venture Partners
Nexus Venture Partners là một quỹ đầu tư mạo hiểm có trụ sở Mumbai, Ấn Độ và được coi là một trong những nhà đầu tư tiên phong của thị trường trong nước . Quỹ đầu tư này hậu thuẫn cho các công ty trong giai đoạn tăng trưởng ở trong nước hay các công ty ở Mỹ có các sản phẩm và công nghệ liên quan tới các thị trường mới nổi.

Nexus Venture Partners đầu tư vào một loạt các lĩnh vực, từ công nghệ, lưu trữ đám mây và phân tích dữ liệu lớn đến truyền thông và các công ty năng lượng. Thông thường quỹ đầu tư này thực hiện từ 6 đến 8 khoản đầu tư trong một năm, đầu tư lên đến 10 triệu đô-la vào các công ty giai đoạn đầu, và số tiền đầu tư ở vòng tiếp theo không giới hạn mà tuỳ thuộc trên sự thành công của công ty khởi nghiệp đã triển khai chiến lược kinh doanh của mình trên thị trường. Nexus được thành lập vào tháng 12 năm 2006 và hiện đang sở hữu cổ phần tại hơn 50 công ty.

Ước tính quỹ đầu tư này quản lý khoảng 600 triệu đô-la. Trong năm 2012, Nexus đã huy động được 270 triệu đô-la để giúp các công ty Ấn Độ thâm nhập vào thị trường toàn cầu cũng như để hỗ trợ các công ty có trụ sở ở Mỹ tập trung vào Ấn Độ.

7. Nasscom
Nasscom là một doanh nghiệp CNTT và hiệp hội thương mại tập trung ở Ấn Độ. Nó không chỉ là một tổ chức địa phương mà còn có kết nối toàn cầu, với hơn 1.200 thành viên và hơn 250 công ty trên toàn cầu với sự hợp tác từ Mỹ, Anh và Châu Âu.

nasscom_1362133001_540x540Các công ty thành viên của Nasscom trải rộng khắp các lĩnh vực khác nhau, từ các sản phẩm IT, quản lý cơ sở hạ tầng, dịch vụ R & D đến các trang thương mại điện tử và dịch vụ đi kèm, dịch vụ kỹ thuật, offshoring, hình ảnh động và game. Do đó, Nasscom đã thực hiện rất nhiều khoản đầu tư vào các ngành công nghiệp công nghệ cao. Trước đó, Nasscom đã thiết lập chương trình 10.000 công ty khởi nghiệp để mang những nhà đầu tư cá nhân, những người cố vấn và những chương trình hỗ trợ khởi nghiệp đến cùng hỗ trợ chương trình. Sáng kiến này đã được hỗ trợ bởi Google, Microsoft và Intel.

8. Ardent Capital
Ardent Capital được thành lập bởi các doanh nghiệp trong khu vực Đông Nam Á. Quỹ đầu tư này đầu tư vào một loạt các công ty trên toàn châu Á, bao gồm Wow.lk một sản phẩm chiếm đến 80% thị trường thương mại điện tử tại Sri Lanka. Ardent Capital là một đội ngũ trẻ, bắt đầu vào năm 2011 và hiện đang mở rộng hoạt động của mình để đầu tư vào các công ty công nghệ giai đoạn đầu trong khu vực.

9. Frontier Digital Ventures
Frontier Digital Ventures là một quỹ đầu tư mạo hiểm có trụ sở tại Malaysia với hoạt động chính là đầu tư vào mô hình rao vặt trực tuyến và liệt kê thông tin công ty. Quỹ này đang hoạt động tại Pakistan, nơi mà nó đã đầu tư vào Pakwheels và Zameen. Frontier DV đầu tư gần 3,5 triệu đô-la vào Pakwheels; và một khoản đầu tư không tiết lộ số tiền vào Zameen, một website rao vặt bất động sản.

10. Kima Ventures
Là một trong những mạng lưới nhà đầu tư cá nhân hoạt động tích cực nhất trên thế giới, Kima Ventures đã thực hiện hơn 300 đầu tư vào gần 290 công ty. Đây là quỹ đầu tư mạo hiểm Pháp đầu tư ở giai đoạn ươm mầm vào các công ty khởi nghiệp tiềm năng.

Danh mục đầu tư của quỹ này khá đa dạng, tổng giá trị thương vụ đầu tư đã vuợt qua con số 15 tỷ đô-la. Quỹ đầu tư này nhìn thấy tiềm năng rất lớn ở sản phẩm Groopic, một sản phẩm của Pakistan dành cho thị trường thế giới.
download-17-e1386233933929
11. Etohum
Etohum có trụ sở ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ, một accelerator cung cấp cho các công ty khởi nghiệp nguồn vốn khởi đầu. Quỹ đầu tư này đã và đang đầu tư từ năm 2008 và đã đầu tư hơn 40 triệu đô-la vào hơn 35 startups và công ty.

Quỹ đầu tư này phát hiện và hỗ trợ ứng dụng Bookme, một ứng dụng di động đặt vé xem phim của công ty khởi nghiệp Pakistan.

12. Naspers
Naspers có trụ sở ở Nam Phi đã đầu tư vào nhiều công ty liên quan đến thương mại điện tử, dịch vụ trực tuyến, báo chí, và truyền hình thu phí. Hơn 80% của các khoản đầu tư chiến lược của Naspers là ở Ấn Độ.
Các tên tuổi lớn Naspers đã đầu tư là Flipkart. Người khổng lồ thương mại điện tử cây nhà lá vườn Ấn Độ ban đầu được đầu tư với 100 triệu đô-la, nhưng sau đó tổng đầu tư lên tới 1.75 tỉ đô-la. Quỹ đầu tư này cũng có khoản đầu tư đáng kể vào trang web rao vặt quen thuộc OLX.

Bài viết được lược dịch từ bài viết gốc: http://www.techjuice.pk/12-intl-venture-capitalist-firms-that-have-invested-in-south-asian-startups/

0

Lại một năm nữa trôi qua với những khó khăn và cả thành công trong lĩnh vực e-commerce và marketing online. Các nhà bán lẻ đều đang đẩy mạnh mạnh hoạt động online của mình đồng thời khách hàng cũng càng ngày quen thuộc hơn ví điện tử và mua hàng qua di động. Điều này chứng tỏ chúng ta đang ở mốc khởi đầu cho một sự bùng nổ về công nghệ và điểm hội tụ của kinh doanh.

ecommerce-trend

Đây sẽ là yếu tố để các nhà bán lẻ tập trung hơn vào nhu cầu khách hàng và ứng dụng những công nghệ cũng như ý tưởng mới nhất để đem đến cho người tiêu dùng những trải nghiệm mua sắm khó quên.

Đầu tư vào dịch vụ khách hàng 

Trong thời buổi cạnh tranh này, chúng ta sẽ được chứng kiến sự chuyển dịch của các khách hàng trung thành từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác mang tới trải nghiệm tốt hơn, hấp dẫn hơn và hữu ích hơn. Do đó doanh nghiệp cần định hướng sản phẩm và hình thức mua hàng của mình dễ dàng, đơn giản và tiện lợi cho khách hàng tìm kiếm và thanh toán.

Hơn thế nữa, trong nỗ lực cạnh tranh hiện nay, nhiều doanh nghiệp đã xây dựng và cho trình làng những ứng dụng mang tính cá nhân hoá cao, giúp người mua hàng hầu như không gặp trở ngại gì khi mua và trả tiền.

Ví di động vẫn chưa thể trở nên thông dụng 

Thị trường smartphone 6 tháng đầu năm 2013 đã chứng kiến sự tăng trưởng lên tới 50% so với năm trước đó, mang đến cho các nhà bán lẻ những cơ hội đầu tư lớn. Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp này đều phát triển thiếu các tiêu chuẩn thiết bị và nền tảng vận hành, và khiến cho thị trường shopping qua di động giảm nhiệt.

Các ứng dụng như Apple Passbook và Google Wallet đều chưa gặt hái được thành công, ngay cả ông hoàng trong lĩnh vực thanh toán online như Paypal cũng mới chỉ chạm tới tay nắm cửa.

Xu hướng của Mobile commerce (Thương mại di động)

Người ta dự đoán rằng, tới năm 2017, shopping qua di động sẽ chiếm ¼ lượng mua bán online của thế giới. Trong khi đó, 58% người trưởng thành cho rằng họ thích mua bán online hơn, chỉ cần tìm và so sánh hàng hoá ở cứ hàng, rồi chọn mua trên Amazon, hơn là phải đi tới cửa hàng trả tiền. Thỉnh thoảng, họ có thể mua ngay khi họ đã lựa được đồ thông qua di động mà không cần phải ôm sản phẩm ra quầy tính tiền.

Các nhà bán lẻ đã tiến gần hơn tới việc phát triển công nghệ shopping online thông qua di động, tìm cách kéo các cửa hàng truyền thống tiếp cận môi trường trực tuyến. Các doanh nghiệp sẽ phải đầu tư nhiều hơn cho những ứng dụng di động đó nhưng cũng phải tập trung vào việc tạo ra những trải nghiệm mua sắm mới giữ được khách hàng.

Data driven marketing – bước đi khôn ngoan cho các doanh nghiệp nhỏ

Khả năng hấp dẫn khách hàng mới và đảm bảo đúng người chính là 2 nhân tố cần thiết cho những doanh nghiệp đang hoặc sắp có ý định thực hiện một chiến dịch marketing.

Các doanh nghiệp nhỏ sẽ trở thành những ngôi sao sáng khi biết cách hướng tới cá nhân người dùng nhiều hơn thông qua các thông điệp và thoả thuận giữa doanh nghiệp và khách hàng. Nhiều sản phẩm và dịch vụ mới đã xuất hiện và mang đến cho các doanh nghiệp nhỏ những hướng tiếp cận dễ dàng hơn tới các dữ liệu khách hàng như chi tiêu hay thói quen mua hàng.

Những thông tin này, trước đây thường được sử dụng bởi những ông lớn, nhưng giờ đây, nó sẽ dành cho cả các doanh nghiệp nhỏ, giúp họ cạnh tranh. Với việc sử dụng những dữ liệu này một cách khôn ngoan, các doanh nghiệp này sẽ tìm được những khách hàng mới, biến họ thành khách hàng của mình và tiếp tục phát triển những chiến lược marketing hiệu quả.

0

Giữa năm 2012, thị trường dịch vụ OTT Việt Nam trở nên sôi động khi hết Kakao Talk lại đến LINE từ Hàn Quốc và Nhật Bản đặt chân vào, đến nửa đầu năm 2013 khi cả ba mở các chiến dịch truyền thông dữ dội trên thị trường để thu hút người dùng.Tuy nhiên sau một thời gian cả núi tiền được đổ vào để phát triển thị trường cho Zalo, LINE, Kakao Talk thì kết quả thu được lại khá mong manh.

Sau khi KakaoTalk giã từ cuộc đua OTT tại Việt Nam, thị trường này chỉ còn 3 tên tuổi lớn là Zalo, Viber và Line. Năm 2014, thị trường OTT xuất hiện hai “tân binh” là Beetalk và Btalk nhưng chỉ gây ồn ào trên phương diện truyền thông rồi biến mất chứ không tạo ra bất cứ sự thay đổi thế trận nào. Thị trường dần như phân cực cho Zalo và Viber.

Trang Jana.com dẫn các nguồn tin trong nước cho biết hiện Zalo đang tạm dẫn đầu thị trường OTT Việt Nam với 20 triệu người dùng, tiếp theo Viber (12 triệu) và Line (4 triệu). Bài báo nhận định số người dùng Zalo hiện đã chiếm gần 95% thị phần điện thoại thông minh ở Việt Nam, tương đương 22 % dân số.

Biều đồ so sánh người dùng một số ứng dụng nhắn tin phổ biến ở Việt Nam so với tổng số người sử dụng smartphone. Nguồn: Jana.com
Biều đồ so sánh người dùng một số ứng dụng nhắn tin phổ biến ở Việt Nam so với tổng số người sử dụng smartphone. Nguồn: Jana.com

Bài toán kinh doanh và xung đột lợi ích với nhà mạng

Với hầu hết các OTT ở Việt Nam hiện nay đều mới chỉ tập trung cho việc đầu tư quảng bá thu hút người dùng, chiếm thị phần mà chưa kinh doanh.

Theo ông Vương Quang Khải, Phó tổng giám đốc Công ty VNG chia sẻ có 3 nguồn thu kinh doanh trên OTT, chính là quảng cáo hướng đối tượng, dịch vụ giá trị gia tăng (game, nhạc nền, hình động…) và thương mại điện tử. Ông Khải cho rằng, thương mại điện tử trên di động sẽ bùng nổ cùng với OTT nhưng cần có khá nhiều thời gian để cụ thể hóa và thành công với mô hình này.

Cuối năm 2013, Viber tung ra gói Viber Out, cho phép người dùng có thể gọi điện tới cả số điện thoại cố định với chi phí rẻ. Với cước phí khoảng 400 đồng/phút rẻ hơn gọi Skype, cho phép liên lạc được với các số di động, cố định. Đây là động thái đầu tiên của tên tuổi OTT nước ngoài nhằm thu hút người dùng và tìm kiếm doanh thu sau một khoảng thời gian dài cung cấp dịch vụ miễn phí.

Về phía OTT nội Zalo, ứng dụng này đang bước đầu liên kết quảng bá cùng một số nhãn hàng như Coca Cola, McDonald, Microsoft….

zalo page

Các OTT đã lấy đi một phần doanh thu dịch vụ thoại và SMS của nhà mạng là điều đã quá rõ và cũng đã được tô đậm trên công luận trong suốt khoảng 2 năm qua. Năm 2013, dịch vụ thoại và SMS của các nhà mạng được cho rằng đã suy giảm về doanh thu lần lượt là khoảng 3-4% và 10-12%. Chỉ tính riêng Zalo, lượng người dùng đến nay đã cán mức 20 triệu, còn lượng người dùng Viber được cho rằng khoảng hơn 10 triệu…cho thấy một xu thế mất doanh thu của nhà mạng sẽ còn tiếp tục kéo dài.

Cục Viễn thông đã đưa ra dự thảo Thông tư quy định về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ thoại, nhắn tin trên nền Internet (OTT). Mục tiêu của việc quản lý này là để doanh nghiệp viễn thông tái đầu tư cơ sở hạ tầng, đảm bảo sự phát triển và tiến hành bảo vệ người dùng. Cụ thể, dịch vụ OTT thoại và nhắn tin, được xếp vào dịch vụ viễn thông cơ bản, điều này phù hợp với quy định của Luật Viễn thông và các cam kết của viễn thông quốc tế.

0

Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, ví điện tử ra đời giúp người tiêu dùng có thể lưu trữ thông tin cá nhân và mua bán hàng hóa nhanh chóng.

vi dien tu

Theo báo cáo của Công ty nghiên cứu thị trường Gartner, tổng giá trị thanh toán qua di động trên toàn cầu năm ngoái lên tới 235,4 tỷ USD, tăng 45% và dự báo tiếp tục tăng lên 325 tỷ USD vào năm nay. Trong đó, nhu cầu thanh toán phổ biến nhất là mua hàng trực tuyến.

Thanh toán qua ví điện tử, người mua sau khi chọn được món hàng chỉ mất 3-5 phút nhập lệnh, chọn loại tài khoản cần thanh toán có sẵn trong các “ngăn” ví điện tử rồi nhấn nút là đã xong bước trả tiền. Người bán cũng biết được tiền đã được người mua chuyển sang “ví” của mình và được các ngân hàng đảm bảo.

Ra đời tại Việt Nam từ năm 2008 trong bối cảnh thị trường thương mại điện tử cần những công cụ thanh toán phù hợp, ví điện tử được kỳ vọng giúp người mua và người bán kết nối nhanh chóng với nhau. Trong giai đoạn 2009 – 2013, các website tích hợp thanh toán trực tuyến tăng hơn 30 lần, trong đó có sự góp mặt của ví điện tử. Nhưng sau 5 năm phát triển, ví điện tử vẫn lận đận tìm chỗ đứng trên thị trường. Tính đến hết năm 2013, cả nước có trên 1,84 triệu ví điện tử, tổng lượng giao dịch trong năm đạt 23.350 tỷ đồng (khoảng 1,1 tỷ USD). So với quy mô của thị trường thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam, con số này còn rất khiêm tốn, vì chỉ tính riêng thị trường thẻ tổng doanh số giao dịch nội địa đã lên tới 1,1 triệu tỷ đồng (52 tỷ USD).

Miếng bánh của thị trường còn không dễ nuốt bởi khách hàng thường chọn những thương hiệu uy tín nên những doanh nghiệp mới lại càng chật vật. Người khổng lồ PayPal hơn 15 năm nay vẫn dẫn đầu thị trường toàn cầu, dù có rất nhiều ví điện tử ra đời đã tuyên chiến giành lại vị trí này. Hay ở Trung Quốc, với sự bành trường của Taobao, ví điện tử Alipay đã chiếm đến 60% thị phần.

Bên cạnh đó, hành lang pháp lý cho hoạt động thanh toán ví điện tử chưa ra đời khiến người tiêu dùng e dè bởi không có chế tài để bảo vệ khi xảy ra các hành vi gian lận, tranh chấp.

Tính bảo mật và lạ lẫm về thương hiệu, công nghệ cũng là một rào cản khiến người dùng chưa quan tâm đến dịch vụ này. Ví dụ nhiều cửa hàng của Starbucks trên thế giới cho phép khách hàng gọi đồ uống qua ứng dụng “thực đơn điện tử”, sau đó cho họ thanh toán ngay qua ứng dụng ví điện tử trên thiết bị di động. Tuy nhiên ở Việt Nam, sự kết nối này vẫn còn thiếu.

Một số ví điện tử phổ biến ở Việt Nam và thế giới

paypal

Quốc tế:

• PayPal: Được sáng lập năm 1998 tại Mỹ bởi Max Levchin và Peter Thiel, công ty nắm giữ thị phần thanh toán qua di động lớn nhất toàn cầu, đạt doanh thu 6,6 tỷ USD năm 2013.

• Alipay: Thuộc Alibaba Group, ra đời năm 2004, thống lĩnh thị trường thanh toán qua điện thoại di động tại Trung Quốc với hơn 100 triệu người đăng ký sử dụng tính đến cuối năm 2013.

• Google Wallet: Ra mắt tại Mỹ vào tháng 9/2011, thu hút được khoảng 10 triệu lượt tải về từ Google Play và có 500 triệu USD được giao dịch tại Mỹ trong năm 2012 với khoảng 12,8 tỷ USD trên toàn cầu.

• Passbook: Apple công bố năm 2012 tại Mỹ, người dùng có thể sử dụng iPhone để quét lại hình ảnh, mã vạch của các thẻ mua hàng, vé máy bay, vé xem phim…, biến chiếc điện thoại thành một dạng ví điện tử.

• Paypass: Ra đời năm 2012 tại Mỹ bởi hãng phát hành thẻ lớn thứ hai thế giới MasterCard, đã phát hành ứng dụng hỗ trợ PayPass cho Android, cho phép thanh toán trên điện thoại mà không cần đăng nhập thông tin thẻ, hãng cũng đã ký thỏa thuận hợp tác với 30.000 đại ký và nhiều ngân hàng danh tiếng.

Trong nước:

• BaoKim: công ty con của Công ty Cổ phần Vật Giá Việt Nam

• Ngân lượng: một sản phẩm của PeaceSoft Solutions Corporation

• VnMart: công ty cổ phần Giải pháp Thanh toán Việt Nam (VNPay)

• Payoo: công ty cổ phần DV Trực tuyến Cộng đồng Việt (VietUnion)

• MobiVí: công ty cổ phần Hỗ trợ DV Thanh toán Việt Phú

• MoMo: ví tiền điện tử trên điện thoại di động của VinaPhone

• VinaPay: công ty cổ phần Công nghệ Thanh toán Việt Nam

• Smartlink: Công ty cổ phần DV Thẻ Smartlink

• M-Service: Công ty cổ phần DV Di động Trực tuyến

1

Tìm thành viên để bắt đầu một dự án cũng giống như tìm bạn đời cho mình chứ không đơn thuần là tuyển dụng, startup cần một đội ngũ có thể tin tưởng, hợp tác và làm việc bình đẳng vì mục đích chung trong một thời gian dài. Chọn nhầm những thành viên đầu tiên của nhóm có thể phá hỏng mọi thứ bạn đang cố gắng xây dựng.

apple

Dưới đây mà những tuýp người như vậy (hoặc ít ra là tôi đã có cơ hội trải nghiệm với chính startup của mình):

“Thợ đào mỏ”

Mục đích chính của họ khi tham gia vào dự án là lấy và sử dụng những tài nguyên, những gì mà nhóm đã đổ công sức xây dựng được. Trong nhiều trường hợp, đó cũng có thể là chính là ý tưởng của dự án. Tất cả những gì một “thợ đào mỏ” muốn là những thứ làm lợi trước mắt cho họ.

Trong một lần tuyển quân cho nhóm của mình, ngay sau khi đồng ý tham gia và cam kết với những mục tiêu của dự án, tôi bắt đầu nhận được câu hỏi về những thứ rất là…không liên quan, trong đó có 80% những phần không thuộc công việc mà họ được giao. Tiếp theo đó, sau khi nhận được cung cấp đầy đủ, họ biến mất, xóa chúng tôi khỏi danh bạ skype, gọi điện không bắt máy. Lúc này cả nhóm mới thực sự nhận ra là mình vừa bị đào mỏ.

Người chơi trốn tìm

Đây là những người cả thèm chóng chán, thiếu tính kiên nhẫn, dễ nản chí. Ban đầu, họ rất nhiệt tình và hứa hẹn rất nhiều về công việc. Nhưng rồi ngọn lửa nhiệt huyết ban đầu bị dập tắt rất nhanh trước những khó khăn khi khởi nghiệp, lựa chọn của họ là rút gọn trong im lặng.

Đây là những người mà tôi đã gặp nhiều nhất trong quá trình xây dựng nhóm. Chỉ cần một thời gian ngắn là bạn có thể nhận diện được những người này. Dấu hiệu đầu tiên là sự vắng mặt trong những cuộc thảo luận nhóm hay việc không phản hồi khi được giao công việc mới. Khi nhận ra những dấu hiệu này, hãy lập tức liên lạc với họ, nếu không có trả lời lại trong vòng 24 giờ, nhiều khả năng là họ đã chơi trò trốn tìm, và sẽ không bao giờ để bạn tìm thấy.

Hãy cẩn thận với những người này, nếu như bạn vẫn có niềm tin rằng không có gì thay đổi, họ chỉ đang bận làm việc gì đó thôi! Tin tưởng đồng đội là một việc cần thiết, nhưng bạn cũng nên học cách nghi ngờ, suy xét tình huống để chuẩn bị cho kế hoạch dự phòng.

Người hứa hẹn và trì hoãn

Đây chính là biểu hiện của những người thiếu trách nhiệm, muốn ngồi mát và ăn bát vàng, sự hiện diện của họ dường như chỉ để nhóm bạn trông có vẻ “đầy đủ”, “lớn mạnh” hơn, làm cho bạn cảm thấy an toàn và yên tâm hơn với nhóm mình, nhưng thực chất hoàn toàn ngược lại. Nó sẽ khiến bạn bị ảo tưởng về thực lực của nhóm.

Vậy làm sao để nhận ra những người này ẩn nấp trong nhóm của bạn? Cách duy nhất là giao một công việc và xem họ hoàn thành nó như thế nào. Nếu họ đưa ra hàng tá lý do cho việc không hoàn thành đúng tiến độ thì bạn nên xem xét về việc có nên giữ người này lại trong nhóm hay không.

Người lãnh đạo tồi

“Tồi” ở đây không phải là khả năng làm việc, mà là về thái độ đối với công việc. Thông thường, lãnh đạo nhóm thường là nhà sáng lập của dự án. Trong nhiều trường hợp, đặc biệt là những người mới làm quen và khởi nghiệp lần đầu, họ thường tự cho mình cái quyền ra lệnh cho người khác mà không làm gì cả. Hay nói cách khác, những người này sẽ chỉ sử dụng cái miệng mà không bắt tay trực tiếp làm bất cứ công việc gì. Họ thường nghĩ rằng mình đang làm việc bằng cách giao nhiệm vụ cho mọi người nhưng sự thật là đang đẩy mọi thứ cho người khác và mơ tưởng về tương lai. Đây có thể coi là một trong những nguyên nhân chính khiến nhóm tan rã.

Trên đây là 4 kiểu người tôi đã từng gặp và làm việc cùng. Chính tôi cũng đã từng là một trong số này. Nếu bạn tìm thấy mình ở trên, hoặc có bóng dáng thành viên trong nhóm mình trong đây, tôi thật sự khuyên bạn nên làm gì đó để thay đổi. Nếu mọi thứ vẫn ổn trong nhóm bạn, xin chúc mừng, nhưng hãy cẩn thận cho những đợt tuyển thành viên trong tương lai, những kẻ phá hoại trên đây có thể đến bất cứ lúc nào.

Quảng Nguyễn

0

Một năm trở lại đây có rất nhiều thiết bị đeo được ra mắt rầm rộ nhưng không nhiều đột phá về mặt công nghệ. Chủ yếu là các loại đồng hồ thông minh hay những vòng đeo theo dõi sức khỏe, tình trạng cơ thể của Pebble và FitBit. Các công ty lớn như Samsung, Sony và Nike cũng bắt đầu nhập cuộc.

Nền tảng còn non trẻ và thiếu thốn

Bỏ qua các yêu cầu về tính năng, thời trang, thì vấn đề lớn nhất của các thiết bị đeo hiện nay là khả năng vận hành độc lập và sự hữu ích của các ứng dụng kèm theo. Phần lớn các chức năng của thiết bị đeo chỉ hoạt động khi kết nối với thiết bị chủ (smartphone, tablet) qua Bluetooth. Đây cũng là lý do tại sao các thiết bị hỗ trợ tập thể dục đơn giản như FitBit Force, Nike FuelBand hay Jawbone Up lại bán chạy hơn những smartwatch phức tạp của Samsung, Sony… Do đó, để có một thiết bị đeo thành công, thu hút người dùng, bên cạnh yếu tố phần cứng và hệ điều hành thì một kho phần mềm với nhiều ứng dụng tốt là yêu cầu bắt buộc.

Nhắc đến ứng dụng dành cho thiết bị đeo thì hiện tại, đồng hồ thông minh Pebble đã vượt xa những thiết bị khác về các ứng dụng có sẵn, nhiều gấp 5 lần so với vị trí thứ hai của Sony SmartWatch.

smartwatch chart

Tuy nhiên, một hạn chế mà các smartwatch Pebble gặp phải là dung lượng lưu trữ khá thấp, chỉ cài được 8 ứng dụng trên thiết bị. Dòng thiết bị Gear của Samsung có dung lượng nhiều hơn với 4GB nhưng lại thiếu ứng dụng hữu ích. Ngoài ra, xét về khả năng cập nhật ứng dụng thì trên thị trường thiết bị đeo hiện tại có 2 loại: loại tập trung chức năng cơ bản, không nhiều ứng dụng và loại có thể bổ sung ứng dụng. Chẳng hạn như FuelBand của Nike, thiết bị được thiết kế riêng để giám sát hoạt động của người thể dục thông qua một ứng dụng cài sẵn duy nhất là Nike+ (một số ứng dụng khác có thể kết hợp với API Nike+ để khai thác các dữ liệu thu được).

Mặc dù vậy, theo xu hướng tiêu dùng thì hệ sinh thái, đặc biệt là kho ứng dụng cho thiết bị đeo cần được cải tiến phong phú hơn. Điều này giúp người dùng khai thác triệt để mọi tính năng của thiết bị và làm cho cuộc sống, công việc hiệu quả, tiện lợi hơn.

Để làm được điều này thì các nhà sản xuất thiết bị đeo cần tập trung hoàn thiện phần cứng. Lấy ví dụ iPhone với phần cứng ưu việt nhất tại thời điểm ra đời năm 2007. Lúc đó Apple chưa có App Store, các nhà phát triển bên thứ ba chưa thể viết ứng dụng cho iPhone để khai thác những khả năng của phần cứng mà smartphone này có được. Một năm sau đó, iPhone SDK được phát hành và 5 năm sau, kho ứng dụng cho iPhone đã tăng trưởng vượt bậc về số lượng cũng như chất lượng. Điều này cũng cần phải lặp lại với thiết bị đeo thông minh.

Thách thức cho các nhà phát triển

Mới đây, một trong những hãng sản xuất lớn là Samsung cũng đã chuyển sang sử dụng nền tảng Tizen cho các đồng hồ thông minh Galaxy Gear của mình. Trong khi đó, đa số các smartphone và máy tính bảng của hãng này lại chạy trên nền Google Android. Ví dụ này cho thấy việc thiếu đồng nhất và phân mảnh ngay cả với những hãng sản xuất tên tuổi hiện đang tồn tại trên thị trường smartwatch nói riêng và thiết bị đeo nói chung.

Việc phân mảnh làm giảm khả năng thích ứng của các bộ phát triển phần mềm (SDK) hoặc API (giao diện lập trình ứng dụng) đối với nhà phát triển ứng dụng. Trong khi đó, chủng loại và số lượng thiết bị đeo đang và sẽ tiếp tục tăng lên không ngừng. Theo dự đoán của Business Insider thì số lượng thiết bị đeo sẽ tăng gấp đôi trong năm nay với 183 triệu và đến năm 2018, số thiết bị đeo được sử dụng trên toàn cầu sẽ tăng lên 561 triệu.

apps chart

Phân mảnh là một lý do để giải thích tại sao hiện có rất ít ứng dụng dành cho thiết bị đeo. Ngoài con số hơn 1.000 ứng dụng dành cho các thiết bị của Pebble, thì hầu hết các thiết bị khác đều có số lượng khá khiêm tốn với ít hơn 100 ứng dụng có sẵn, Samsung Galaxy Gear cũng chỉ có khoảng hơn 70 ứng dụng. Do đó, muốn lôi kéo người tiêu dùng và tạo nên một sự đột phá trong cuộc cách mạng thiết bị đeo thì một trong những điều kiện bắt buộc là kho ứng dụng dành riêng phải nhiều và phong phú hơn nữa.

Các nhà phát triển cũng cần hiểu rằng, thiết bị đeo hiện tại rất cần sự vận hành độc lập từ những tác vụ cơ bản và đơn giản nhất. Bởi vì hiện tại, chức năng của đa số ứng dụng vẫn còn khá thô sơ và để chạy được phải nhờ việc kết hợp với smartphone hay máy tính bảng. Chẳng hạn như với smartwatch của Sony, Samsung… một số ứng dụng cài sẵn chỉ có chức năng nhận, hiển thị thông báo hay ghi lại dữ liệu nhận được từ điện thoại. Ứng dụng dành cho thiết bị đeo cần thoát khỏi mô hình ràng buộc khô cứng này để vận hành độc lập, thậm chí có thể làm được những điều mà các tiện ích trên smartphone không làm được nhờ sự cơ động vốn có của mình. Chẳng hạn như ứng dụng Allthecooks trên kính thông minh Google Glass cho phép người sử dụng có thể nấu ăn với công thức chế biến được hiển thị trước tầm mắt.

Một khảo sát gần đây của Accenture cho thấy, hơn một nửa số người tiêu dùng toàn cầu cho biết họ đang thực sự quan tâm đến các thiết bị hỗ trợ việc chăm sóc sức khỏe và tập thể dục được thiết kế dạng đeo cổ tay (tương tự như các thiết bị đeo của Nike và FitBit). Theo thời gian, đồng hồ thông minh và vòng đeo chăm sóc sức khỏe (health band) sẽ dần hòa thành một và trở thành chủng loại thiết bị cần thiết và phổ biến với người dùng.

Ứng dụng và thiết bị giám sát sức khỏe và tập thể dục nhận được sự quan tâm nhiều nhất từ phía người dùng, theo nghiên cứu của Accenture
Ứng dụng và thiết bị giám sát sức khỏe và tập thể dục nhận được sự quan tâm nhiều nhất từ phía người dùng, theo nghiên cứu của Accenture

Công ty nghiên cứu Gartner dự đoán rằng ứng dụng của thiết bị đeo sẽ chiếm một nửa trong tất cả các ứng dụng tương tác vào năm 2017, một dự đoán đáng ngạc nhiên nhưng có thể đáng tin bởi tốc độ phát triển công nghệ đeo đang rất nhanh. Ngày nay, khoảng 92% lượng tải ứng dụng là miễn phí, nhưng người dùng thường sẽ phải chấp nhận quảng cáo hoặc kết nối dữ liệu để trao đổi với việc sử dụng các ứng dụng.

Một trong những vấn đề trước giờ mà các nhà phát triển phải đối mặt khi tạo ra các ứng dụng cho hệ điều hành di động của Google là sự phân mảnh gây ra bởi các phiên bản phần mềm khác nhau, kích cỡ màn hình và độ phân giải cũng khác nhau. Giờ đây, vấn đề tương tự đã bắt đầu xuất hiện trên smartwatch mặc dù trên một quy mô nhỏ hơn nhiều, chủ yếu là do các nhà cung cấp tung ra những model smartwatch có cả màn hình vuông lẫn tròn.

Tháng 8 vừa qua, LG Electronics đã trình làng mẫu đồng hồ G Watch R của họ có thiết kế mặt đồng hồ tròn, không giống như những mẫu đồng hồ vuông LG G Watch và Samsung Gear Live trước đây.

moto360
Moto 360, mẫu smartwatch mặt hình tròn của Motorola

Các nhà phát triển sẽ phải làm quen với sự phân mảnh trong lĩnh vực smartwatch cũng giống như họ đã từng gặp trong thị trường smartphone, thậm chí có thể là khó khăn hơn nhiều, Neil Mawston, Giám đốc điều hành của hãng Strategy Analytics cho biết: “Không thể tránh được điều này đối với các hệ điều hành được cấp phép, bởi vì đó là cách duy nhất các nhà sản xuất phần cứng có thể làm để tự phân biệt mình”.

0

Vài năm trước đây, các hãng công nghệ lớn thường tách riêng sản phẩm của mình ra thành những thiết bị khác nhau để phục vụ cho những nhu cầu công việc và cuộc sống riêng của người tiêu dùng. Nhưng giờ đây, với xu hướng liên kết phần cứng và phần mềm, đồng thời bị thúc đẩy bởi mong muốn hợp nhất hai thành phần thành một và tạo thuận lợi lớn nhất cho khách hàng.

Các ông lớn đã phát triển các hệ thống sản phẩm và phần mềm tương tác với nhau để hỗ trợ người sử dụng ở mức cao nhất. Người ta gọi hệ thống những sản phẩm này là một “hệ sinh thái”. Những gã khổng lồ có hệ sinh thái đa dạng và tương thích với nhau tốt nhất trong giới công nghệ hiện nay gồm có: Google, Apple, Amazon, Microsoft … và cuộc chiến cạnh tranh dành thị phần đang ngày càng khốc liệt hơn bao giờ hết. Trong đó, Google đang có những bước tiến đáng kể.

Những mắt xích mới nhất trong hệ sinh thái của Google

Trong gần 20 năm phát triển của mình, Google đã có nhiều cuộc bứt phá ngoạn ngục, đem lại các số liệu tăng trưởng chóng mặt và trở thành xu hướng trong giới công nghệ. Chính vì thế, Google ngày càng muốn lớn mạnh hơn nữa, trở thành một hệ sinh thái khép kín, với mục tiêu giúp người sử dụng sản phẩm của Google tiếp cận tất cả các nhu cầu của bản thân (đặc biệt là nhu cầu mua sắm và tiêu dùng) thông qua chỉ một thiết bị Google. Trong mục tiêu tạo lập một hệ sinh thái khép kín này, công nghệ NFC (Near-Field Communications) được lấy làm trung tâm và tất cả các sản phẩm, dịch vụ khác của Google đều bổ trợ cho những thiết bị sử dụng công nghệ này.

NFC

NFC (Near-Field Communications) là công nghệ kết nối không dây trong phạm vi ngắn với khoảng cách 4 cm. Khi có sự tiếp xúc trực tiếp hay để gần nhau, các thiết bị có công nghệ NFC sẽ được kết nối với nhau dựa trên cảm ứng từ.

Cho tới nay, công nghệ NFC đã được phát triển rất nhanh, không chỉ danh bạ điện thoại, liên kết URL, mà ngay cả các ứng dụng, game, hình ảnh cũng có thể truyền tải thông qua NFC. NFC cũng được dùng cho việc thanh toán trên các thiết bị di động. Nhật Bản là quốc gia tiên phong trong công nghệ này. Với một chiếc smartphone hay máy tính bảng có gắn chip NFC, khách hàng có thể thực hiện giao dịch như một thẻ tín dụng hoặc đóng vai trò như một chìa khóa hoặc thẻ ID.

Quay trở lại với câu chuyện về anh chàng Google, ai cũng biết Google nổi tiếng với nền tảng di động Android của mình. Android hiện nay đang xuất hiện trên hầu hết các thiết bị điện tử di động của các hãng lớn như là Samsung, HTC, Sony ,… và bao quanh nó là những ứng dụng được phát triển để tương thích với android và phục vụ nhu cầu của người sử dụng. Nhưng tham vọng của Google hiện nay không dừng lại tại đó, ông lớn này đang muốn lấn sân sang cả lĩnh vực thanh toán di động và thanh toán trực tiếp. Google Wallet và Google Offers chính là những mắc xích mới nhất trong hệ sinh thái của Google.

google-wallet

Google Wallet là một ứng dụng ví điện tử chạy trên công nghệ NFC và mang trong mình tham vọng thay thế chiếc ví thông thường. Google hy vọng Google Wallet sẽ có thể thay thế cho cả chứng minh nhân dân, thẻ tín dụng, và tất cả các loại giấy tờ cá nhân cần thiết của khách hàng. Ví điện tử của Google không chỉ dùng trong thanh toán, mà nó còn dùng để trả cho vé tàu điện ngầm, vé vào cổng, tiền phạt giao thông,…. Và trong tương lai gần, Google Wallet có thể sẽ làm cho việc thanh toán dễ như là gửi một email. Với Google Wallet, các khách hàng của Google giờ đây có thể tìm kiếm thông tin và địa điểm mua món đồ cần thiết và trả tiền cho món đồ đó thông qua một thiết bị duy nhất, chính là điện thoại có gắn chip NFC của Google.

Google Offers mặt khác lại giống như một tờ rơi quảng cáo, khách hàng có thể dễ dàng tìm thấy được nhiều các khuyến mại, giảm giá và nhận các phiếu khuyến mãi này qua điện thoại. Không mất công đi phát quảng cáo và thậm chí còn tiếp kiệm được một lượng giấy đáng kể, Google Offers hiện đang là một phương thức quảng cáo hữu hiệu và là nguồn thu quảng cáo đáng kể của Google. Người tiêu dùng có thể mua phiếu khuyến mãi này thông qua dịch vụ Google Checkout (một dịch vụ thanh toán trung gian trực tuyến) và chờ tới khi có đủ lượng người mua thì phiếu bắt đầu có giá trị.

Tham vọng của Google đang được hỗ trợ bởi nhiều sản phẩm

Google tin rằng mình có thể phát triển một hệ sinh thái công nghệ khép kín, từ khâu tìm kiếm sản phẩm đến tận khâu thanh toán. Tuy rằng thanh toán vẫn đang là một bước trở ngại cho Google khi các dịch vụ thanh toán trực tuyến hầu hết đều kết thúc ở một ngân hàng. Nhưng khâu tìm kiếm thông tin và xác định sản phẩm phù hợp lại là điểm mạnh mà Google làm tốt hơn tất cả đối thủ của mình.

Tất cả các thông tin khách hàng muốn tìm đều được Google nắm trong lòng bàn tay thông qua một hệ thống khép kín. Bắt đầu bằng các dịch vụ như Google Search, Youtube, Dodgeball, Blogger, Google Maps…, biểu thị cho việc thông tin bắt đầu được lưu thông online thông qua máy chủ của Google, người sử dụng có thể dễ dàng nắm bắt được thông tin mình cần. Những thông tin này được xử lý và truyền tải nhanh chóng hơn so với những thông tin không thuộc dịch vụ Google cung cấp như các trang web, blog khác. Tóm lại, từ Google, người sử dụng đều có thể có được mọi dữ liệu mình cần.

Tiếp đó, người sử dụng sẽ sử dụng những thông tin này bằng cách thay đổi, chia sẻ, sao lưu, xóa bỏ thông tin thông qua Gmail, Youtube, Google Plus … Google sẽ tiếp nhận những thông tin này và tập hợp lại thành nhiều loại mục để tiện cho việc tìm kiếm thông qua Google search hoặc Google Maps. Những thông tin đó được phân tích thông qua Google Analytics, và sử dụng cho các quảng cáo của Google.

He-sinh-thai-Google

Đó là chuỗi thông tin của Google, một chuỗi khép kín và bổ trợ lẫn nhau để phục vụ nhu cầu khách hàng. Và với sự giúp sức của những ứng dụng này, biết đâu Google sẽ có nhiều thời gian hơn để phát triển lĩnh vực thanh toán của mình và biết đâu trong tương lai chúng ta sẽ được thấy môt Google Bank thì sao?

Kết

Tuy nhiên, tương lai đó sẽ còn rất xa khi mà chiếc ví điện tử của Google vẫn đang phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống ngân hàng và các thiết bị đọc chip NFC. Nhưng nhờ có chiếc ví điện tử này, ông lớn Google đang bước dần vào lĩnh vực thương mại điện tử và sẽ trở thành một đối thủ đáng gờm của Amazon vì Google Wallet chỉ cần một cái lướt qua thiết bị đọc thẻ là đã sẵn sàng để trả tiền, và khách hàng dù cho có sử dụng nhiều tài khoản thì tất cả đều tích họp trong ứng dụng này. Điều này giúp khách hàng có những trải nghiệm tuyệt vời khi chỉ cần chạm và mua, nhất là khi giới trẻ đang càng ngày càng hứng thú với các tiện ích thanh toán thông qua di động và họ sẵn sàng sử dụng Google Wallet để làm cho việc mua sắm càng ngày càng dễ dàng hơn. Hơn thế nữa, Google Wallet còn giúp tăng doanh thu bán Nexus và làm cho thị phần của Nexus càng mở rộng hơn trong tương lai.

Nhiều chuyên gia công nghệ và nghiên cứu hành vi tiêu dùng đã đánh giá Google Wallet sẽ mở ra một kỷ nguyên mới trong thói quen mua sắm của người tiêu dùng và nếu được phát triển đúng hướng, càng ngày càng tương thích với nhiều hệ điều hành và được chấp nhận thanh toán ở nhiều nơi hơn nữa, ứng dụng này sẽ trở thành một cuộc cách mạng công nghệ và thanh toán, trở thành một biểu tượng của thế giới hiện đại như đàn anh Google Search đã làm được gần 20 năm trước.

Shop chuyên bán Cà vạt, nơ chất lượng và uy tín. Giảm giá tới 30% các sản phẩm cao cấp