Smartwatch: Thị trường ứng dụng thiếu thốn và phân mảnh

Một năm trở lại đây có rất nhiều thiết bị đeo được ra mắt rầm rộ nhưng không nhiều đột phá về mặt công nghệ. Chủ yếu là các loại đồng hồ thông minh hay những vòng đeo theo dõi sức khỏe, tình trạng cơ thể của Pebble và FitBit. Các công ty lớn như Samsung, Sony và Nike cũng bắt đầu nhập cuộc.

Nền tảng còn non trẻ và thiếu thốn

Bỏ qua các yêu cầu về tính năng, thời trang, thì vấn đề lớn nhất của các thiết bị đeo hiện nay là khả năng vận hành độc lập và sự hữu ích của các ứng dụng kèm theo. Phần lớn các chức năng của thiết bị đeo chỉ hoạt động khi kết nối với thiết bị chủ (smartphone, tablet) qua Bluetooth. Đây cũng là lý do tại sao các thiết bị hỗ trợ tập thể dục đơn giản như FitBit Force, Nike FuelBand hay Jawbone Up lại bán chạy hơn những smartwatch phức tạp của Samsung, Sony… Do đó, để có một thiết bị đeo thành công, thu hút người dùng, bên cạnh yếu tố phần cứng và hệ điều hành thì một kho phần mềm với nhiều ứng dụng tốt là yêu cầu bắt buộc.

Nhắc đến ứng dụng dành cho thiết bị đeo thì hiện tại, đồng hồ thông minh Pebble đã vượt xa những thiết bị khác về các ứng dụng có sẵn, nhiều gấp 5 lần so với vị trí thứ hai của Sony SmartWatch.

smartwatch chart

Tuy nhiên, một hạn chế mà các smartwatch Pebble gặp phải là dung lượng lưu trữ khá thấp, chỉ cài được 8 ứng dụng trên thiết bị. Dòng thiết bị Gear của Samsung có dung lượng nhiều hơn với 4GB nhưng lại thiếu ứng dụng hữu ích. Ngoài ra, xét về khả năng cập nhật ứng dụng thì trên thị trường thiết bị đeo hiện tại có 2 loại: loại tập trung chức năng cơ bản, không nhiều ứng dụng và loại có thể bổ sung ứng dụng. Chẳng hạn như FuelBand của Nike, thiết bị được thiết kế riêng để giám sát hoạt động của người thể dục thông qua một ứng dụng cài sẵn duy nhất là Nike+ (một số ứng dụng khác có thể kết hợp với API Nike+ để khai thác các dữ liệu thu được).

Mặc dù vậy, theo xu hướng tiêu dùng thì hệ sinh thái, đặc biệt là kho ứng dụng cho thiết bị đeo cần được cải tiến phong phú hơn. Điều này giúp người dùng khai thác triệt để mọi tính năng của thiết bị và làm cho cuộc sống, công việc hiệu quả, tiện lợi hơn.

Để làm được điều này thì các nhà sản xuất thiết bị đeo cần tập trung hoàn thiện phần cứng. Lấy ví dụ iPhone với phần cứng ưu việt nhất tại thời điểm ra đời năm 2007. Lúc đó Apple chưa có App Store, các nhà phát triển bên thứ ba chưa thể viết ứng dụng cho iPhone để khai thác những khả năng của phần cứng mà smartphone này có được. Một năm sau đó, iPhone SDK được phát hành và 5 năm sau, kho ứng dụng cho iPhone đã tăng trưởng vượt bậc về số lượng cũng như chất lượng. Điều này cũng cần phải lặp lại với thiết bị đeo thông minh.

Thách thức cho các nhà phát triển

Mới đây, một trong những hãng sản xuất lớn là Samsung cũng đã chuyển sang sử dụng nền tảng Tizen cho các đồng hồ thông minh Galaxy Gear của mình. Trong khi đó, đa số các smartphone và máy tính bảng của hãng này lại chạy trên nền Google Android. Ví dụ này cho thấy việc thiếu đồng nhất và phân mảnh ngay cả với những hãng sản xuất tên tuổi hiện đang tồn tại trên thị trường smartwatch nói riêng và thiết bị đeo nói chung.

Việc phân mảnh làm giảm khả năng thích ứng của các bộ phát triển phần mềm (SDK) hoặc API (giao diện lập trình ứng dụng) đối với nhà phát triển ứng dụng. Trong khi đó, chủng loại và số lượng thiết bị đeo đang và sẽ tiếp tục tăng lên không ngừng. Theo dự đoán của Business Insider thì số lượng thiết bị đeo sẽ tăng gấp đôi trong năm nay với 183 triệu và đến năm 2018, số thiết bị đeo được sử dụng trên toàn cầu sẽ tăng lên 561 triệu.

apps chart

Phân mảnh là một lý do để giải thích tại sao hiện có rất ít ứng dụng dành cho thiết bị đeo. Ngoài con số hơn 1.000 ứng dụng dành cho các thiết bị của Pebble, thì hầu hết các thiết bị khác đều có số lượng khá khiêm tốn với ít hơn 100 ứng dụng có sẵn, Samsung Galaxy Gear cũng chỉ có khoảng hơn 70 ứng dụng. Do đó, muốn lôi kéo người tiêu dùng và tạo nên một sự đột phá trong cuộc cách mạng thiết bị đeo thì một trong những điều kiện bắt buộc là kho ứng dụng dành riêng phải nhiều và phong phú hơn nữa.

Các nhà phát triển cũng cần hiểu rằng, thiết bị đeo hiện tại rất cần sự vận hành độc lập từ những tác vụ cơ bản và đơn giản nhất. Bởi vì hiện tại, chức năng của đa số ứng dụng vẫn còn khá thô sơ và để chạy được phải nhờ việc kết hợp với smartphone hay máy tính bảng. Chẳng hạn như với smartwatch của Sony, Samsung… một số ứng dụng cài sẵn chỉ có chức năng nhận, hiển thị thông báo hay ghi lại dữ liệu nhận được từ điện thoại. Ứng dụng dành cho thiết bị đeo cần thoát khỏi mô hình ràng buộc khô cứng này để vận hành độc lập, thậm chí có thể làm được những điều mà các tiện ích trên smartphone không làm được nhờ sự cơ động vốn có của mình. Chẳng hạn như ứng dụng Allthecooks trên kính thông minh Google Glass cho phép người sử dụng có thể nấu ăn với công thức chế biến được hiển thị trước tầm mắt.

Một khảo sát gần đây của Accenture cho thấy, hơn một nửa số người tiêu dùng toàn cầu cho biết họ đang thực sự quan tâm đến các thiết bị hỗ trợ việc chăm sóc sức khỏe và tập thể dục được thiết kế dạng đeo cổ tay (tương tự như các thiết bị đeo của Nike và FitBit). Theo thời gian, đồng hồ thông minh và vòng đeo chăm sóc sức khỏe (health band) sẽ dần hòa thành một và trở thành chủng loại thiết bị cần thiết và phổ biến với người dùng.

Ứng dụng và thiết bị giám sát sức khỏe và tập thể dục nhận được sự quan tâm nhiều nhất từ phía người dùng, theo nghiên cứu của Accenture

Ứng dụng và thiết bị giám sát sức khỏe và tập thể dục nhận được sự quan tâm nhiều nhất từ phía người dùng, theo nghiên cứu của Accenture

Công ty nghiên cứu Gartner dự đoán rằng ứng dụng của thiết bị đeo sẽ chiếm một nửa trong tất cả các ứng dụng tương tác vào năm 2017, một dự đoán đáng ngạc nhiên nhưng có thể đáng tin bởi tốc độ phát triển công nghệ đeo đang rất nhanh. Ngày nay, khoảng 92% lượng tải ứng dụng là miễn phí, nhưng người dùng thường sẽ phải chấp nhận quảng cáo hoặc kết nối dữ liệu để trao đổi với việc sử dụng các ứng dụng.

Một trong những vấn đề trước giờ mà các nhà phát triển phải đối mặt khi tạo ra các ứng dụng cho hệ điều hành di động của Google là sự phân mảnh gây ra bởi các phiên bản phần mềm khác nhau, kích cỡ màn hình và độ phân giải cũng khác nhau. Giờ đây, vấn đề tương tự đã bắt đầu xuất hiện trên smartwatch mặc dù trên một quy mô nhỏ hơn nhiều, chủ yếu là do các nhà cung cấp tung ra những model smartwatch có cả màn hình vuông lẫn tròn.

Tháng 8 vừa qua, LG Electronics đã trình làng mẫu đồng hồ G Watch R của họ có thiết kế mặt đồng hồ tròn, không giống như những mẫu đồng hồ vuông LG G Watch và Samsung Gear Live trước đây.

moto360

Moto 360, mẫu smartwatch mặt hình tròn của Motorola

Các nhà phát triển sẽ phải làm quen với sự phân mảnh trong lĩnh vực smartwatch cũng giống như họ đã từng gặp trong thị trường smartphone, thậm chí có thể là khó khăn hơn nhiều, Neil Mawston, Giám đốc điều hành của hãng Strategy Analytics cho biết: “Không thể tránh được điều này đối với các hệ điều hành được cấp phép, bởi vì đó là cách duy nhất các nhà sản xuất phần cứng có thể làm để tự phân biệt mình”.